Skip to content

ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC Ở TIỂU HỌC (TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN) – phần 1

16/05/2010

Để góp phần đổi mới công tác đào tạo và bồi dưỡng giáo viên và cán bộ quản lí giáo dục
tiểu học, Dự án Phát triển Giáo viên Tiểu học đã tổ chức biên soạn các mô đun đào tạo theo
chương trình Cao đẳng sư phạm và chương trình liên thông từ Trung học Sư phạm lên Cao
đẳng Sư phạm; biên soạn các mô đun bồi dưỡng giáo viên nhằm nâng cao năng lực chuyên
môn, nghiệp vụ, cập nhật những đổi mới về nội dung, phương pháp dạy học và kiểm tra
đánh giá kết quả giáo dục theo chương trình, sách giáo khoa tiểu học mới

View this document on Scribd

Hội thảo khoa học: ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC – NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN TIỂU HỌC

16/05/2010

Ngày 13 tháng 5 năm 2010, khoa Giáo dục tiểu học trường CĐSP Đồng Nai tổ chức hội thảo:  ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC – NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN TIỂU HỌC nhằm nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên tiểu học.

Theo kế hoạch ban đầu, hội thảo được tổ chức tại phòng 3B nhưng do phòng này đang trong quá trình sửa chữa nên hội thảo được tổ chức tại phòng B203.

Đến dự hội thảo có thầy Trần Minh Hùng (Phó hiệu trưởng nhà trường), thầy Lê Văn Thân (Trưởng phòng đào tạo) các giảng viên trong khoa và các bạn sinh viên của khoa tiểu học.

Có hai bản tham luận được trình bày trong hội thảo và được sự đóng góp ý kiến của các giảng viên của các giảng viên về việc làm thế nào để nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên tiểu học. Bên cạnh đó, trong hội thảo các giảng viên trong khoa cũng đã giải đáp một số thắc mắc của các bạn sinh viên về các vấn đề liên quan đến phương pháp dạy học và một số vấn đề có liên quan.

Tuy nhiên, để nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên thì không chỉ phải thay đổi phương pháp giảng dạy nhằm nâng cao tính tích cực của người  học mà còn phải quan tâm đến nhiều vấn đề khác nữa như tạo một phong trào thi đua học tập trong sinh viên, xây dựng các câu lạc bộ học tập,…

Lịch thi K32 – HK VI

11/05/2010

Lịch thi K32 – HK VI – khoa Giáo dục Tiểu học

Ngày thi

Môn thi

Chiều T3 18/05/2010 Hành chính nhà nước
Sáng T7 22/05/2010 Tư tưởng Hồ Chí Minh
Chiều T3 25/05/2010 Tự chọn 1
Chiều T5 27/05/2010 Tự chọn 2
Sáng T7 29/05/2010 Tự chọn 3

QUI ĐỊNH: Đánh giá và xếp loại học sinh tiểu học

11/05/2010

QUY ĐỊNH
Đánh giá và xếp loại học sinh tiểu học
(Ban hành kèm theo Thông tư số  32 /2009/TT-BGDĐT
ngày 27 tháng 10  năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo)

View this document on Scribd

QUY CHẾ: Đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ

11/05/2010

QUY CHẾ
Đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ
(Ban hành kèm theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BGDĐT
ngày 15 tháng 8năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo)

CHƯƠNG 1: QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1: Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
1. Quy  chế  này  quy  định  đào tạo  đại học  và  cao  đẳng hệ  chính  quy  theo hệ
thống tín chỉ, bao gồm: tổ chức đào tạo; kiểm tra và thi học phần; xét và công nhận tốt
nghiệp.
2. Quy  chế  này  áp dụng  đối với  sinh  viên  các  khoá  đào tạo hệ  chính  quy ở
trình độ đại học và cao đẳng trong các đại học, học viện, trường đại học và trường cao
đẳng (sau đây gọi tắt là trường) thực hiện theo hình thức tích luỹ tín chỉ.

Điều 2: Chương trình giáo dục Đại học
1. Chương trình giáo dục đại học (sau đây gọi tắt là chương trình) thể hiện mục
tiêu  giáo dục  đại học,  quy  định  chuẩn  kiến  thức, kỹ năng,  phạm  vi  và cấu  trúc nội
dung giáo dục đại học, phương pháp và hình thức đào tạo, cách thức đánh giá kết quả
đào tạo đối với mỗi học phần, ngành học, trình độ đào tạo của giáo dục đại học.
2. Chương  trình được các  trường xây dựng  trên cơ sở chương  trình khung do
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.
Mỗi chương trình gắn với một ngành (kiểu đơn ngành) hoặc với một vài ngành
(kiểu song ngành; kiểu ngành chính – ngành phụ; kiểu 2 văn bằng).
3. Chương  trình được cấu  trúc từ các học phần  thuộc hai khối kiến  thức: giáo
dục đại cương và giáo dục chuyên nghiệp.

Điều 3: Học phần và tín chỉ
1. Học  phần  là  khối lượng  kiến  thức tương  đối  trọn vẹn,  thuận  tiện  cho  sinh
viên tích  luỹ  trong quá trình học tập. Phần lớn học phần có khối lượng từ 2 đến 4 tín
chỉ, nội dung được bố trí giảng dạy trọn vẹn và phân bố đều trong một học kỳ. Kiến
thức trong mỗi học phần phải gắn với một mức trình độ theo năm học thiết kế và được
kết cấu riêng như một phần của môn học hoặc được kết cấu dưới dạng tổ hợp từ nhiều
môn học. Từng học phần phải được ký hiệu bằng một mã số riêng do trường quy định.
2. Có hai loại học phần: học phần bắt buộc và học phần tự chọn.

a) Học phần bắt buộc  là học phần chứa đựng những nội dung kiến  thức chính
yếu của mỗi chương trình và bắt buộc sinh viên phải tích lũy;
b) Học phần tự chọn là học phần chứa đựng những nội dung kiến thức cần thiết,
nhưng sinh viên được tự chọn  theo hướng dẫn của  trường nhằm đa dạng hoá hướng
chuyên môn hoặc được tự chọn  tuỳ ý để  tích  luỹ đủ số học phần quy định cho mỗi
chương trình.
3. Tín chỉ được sử dụng để  tính khối lượng học tập của sinh viên. Một  tín chỉ
được quy định bằng 15 tiết học lý thuyết; 30 – 45 tiết thực hành, thí nghiệm hoặc thảo
luận; 45 – 90 giờ thực tập tại cơ sở; 45 – 60 giờ làm tiểu luận, bài tập lớn hoặc đồ án,
khoá luận tốt nghiệp.

Đối với những học phần lý thuyết hoặc thực hành, thí nghiệm, để tiếp thu được
một tín chỉ sinh viên phải dành ít nhất 30 giờ chuẩn bị cá nhân.
Hiệu  trưởng  các  trường quy định cụ  thể số  tiết, số giờ đối với từng học phần
cho phù hợp với đặc điểm của trường.
4. Đối với những chương trình, khối lượng của từng học phần đã được tính theo
đơn vị học trình, thì 1,5 đơn vị học trình được quy đổi thành 1 tín chỉ.
5. Một tiết học được tính bằng 50 phút.

Điều 4: Thời gian hoạt động giảng dạy
Thời gian hoạt động giảng dạy của  trường được  tính từ 8 giờ đến 20 giờ hằng
ngày. Tuỳ  theo  tình  hình  thực tế của  trường, Hiệu  trưởng quy định cụ  thể  thời  gian
hoạt động giảng dạy của trường.
Tuỳ theo số lượng sinh viên, số lớp học cần tổ chức và điều kiện cơ sở vật chất
của trường, trưởng phòng đào tạo sắp xếp thời khóa biểu hàng ngày cho các lớp.
Điều 5: Đánh giá kết quả học tập
Kết quả học tập của sinh viên được đánh giá sau từng học kỳ qua các  tiêu chí
sau:
1. Số  tín chỉ của các học phần mà sinh viên đăng ký học vào đầu mỗi học kỳ
(gọi tắt là khối lượng học tập đăng ký).
2. Điểm  trung  bình  chung học kỳ  là điểm  trung  bình  có  trọng số của  các học
phần mà sinh viên đăng ký học  trong học kỳ đó, với trọng số  là số tín chỉ tương ứng
của từng học phần.

3. Khối lượng  kiến  thức  tích lũy  là  khối lượng  tính bằng tổng số  tín  chỉ của
những học phần đã được đánh giá  theo  thang điểm chữ A, B, C, D  tính từ đầu khóa
học.
4. Điểm trung bình chung tích lũy là điểm trung bình của các học phần và được
đánh  giá bằng  các điểm  chữ A, B, C, D mà  sinh  viên đã  tích lũy được,  tính từ  đầu
khóa học cho tới thời điểm được xem xét vào lúc kết thúc mỗi học kỳ.

CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC ĐÀO TẠO
Điều 6: Thời gian và kế hoạch đào tạo
1. Các trường tổ chức đào tạo theo khoá học, năm học và học kỳ.
a) Khoá học  là  thời gian  thiết kế để sinh viên hoàn  thành một chương  trình cụ
thể. Tuỳ thuộc chương trình, khoá học được quy định như sau:
– Đào tạo  trình  độ  cao  đẳng  được  thực  hiện từ  hai  đến  ba năm học  tùy  theo
ngành nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc bằng
tốt  nghiệp  trung cấp; từ một năm rưỡi  đến  hai năm học  đối với  người  có bằng tốt
nghiệp trung cấp cùng ngành đào tạo;
– Đào tạo  trình  độ  đại học  được  thực  hiện từ bốn  đến  sáu năm học  tùy  theo
ngành nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc bằng
tốt  nghiệp  trung cấp; từ  hai năm rưỡi  đến bốn năm học  đối với  người  có bằng tốt
nghiệp trung cấp cùng ngành đào tạo; từ một năm rưỡi đến hai năm học đối với người
có bằng tốt nghiệp cao đẳng cùng ngành đào tạo.
b) Một năm học có hai học kỳ chính, mỗi học kỳ chính có  ít nhất 15 tuần thực
học và 3  tuần  thi. Ngoài hai học kỳ chính, Hiệu  trưởng xem xét quyết định tổ chức
thêm một kỳ học phụ để sinh viên có điều kiện được học lại; học bù hoặc học vượt.
Mỗi học kỳ phụ có ít nhất 5 tuần thực học và 1 tuần thi.
2. Căn cứ  vào  khối lượng  và nội  dung  kiến  thức tối  thiểu  quy  định  cho  các
chương trình, Hiệu trưởng dự kiến phân bổ số học phần cho từng năm học, từng học
kỳ.
3. Thời  gian tối  đa  hoàn  thành  chương  trình  bao gồm:  thời  gian  thiết kế  cho
chương trình quy định tại khoản 1 của Điều này, cộng với 2 học kỳ đối với các khoá
học dưới 3 năm; 4 học kỳ đối với các khoá học từ 3 đến dưới 5 năm; 6 học kỳ đối với
các khoá học từ 5 đến 6 năm.

Tùy theo điều kiện đào tạo của nhà trường, Hiệu trưởng quy định thời gian tối
đa cho mỗi chương trình, nhưng không được vượt quá hai lần so với thời gian thiết kế
cho chương trình đó.
Các đối tượng được hưởng chính sách ưu tiên theo quy định tại Quy chế tuyển
sinh  đại học,  cao  đẳng hệ  chính  quy  không bị hạn  chế về  thời  gian tối  đa  để  hoàn
thành chương trình.

Điều 7: Đăng ký nhập học
1. Khi đăng ký vào học hệ chính quy  theo hệ  thống  tín chỉ tại  trường đại học,
trường cao đẳng, ngoài các giấy tờ phải nộp theo quy định tại Quy chế tuyển sinh đại
học, cao đẳng hệ chính quy hiện hành, sinh viên phải nộp cho phòng đào tạo đơn xin
học  theo hệ  thống  tín chỉ  theo mẫu do  trường quy định. Tất cả giấy tờ khi sinh viên
nhập học phải được xếp vào túi hồ sơ của từng cá nhân do phòng đào tạo của trường
quản lý.
2. Sau khi xem xét thấy đủ điều kiện nhập học, phòng đào tạo trình Hiệu trưởng
ký quyết định công nhận người đến học là sinh viên chính thức của trường và cấp cho
họ:
a)  Thẻ sinh viên;
b)  Sổ đăng ký học tập;
c)  Phiếu nhận cố vấn học tập.
3. Mọi thủ tục đăng ký nhập học phải được hoàn thành trong thời hạn theo quy
định tại Quy chế tuyển sinh đại học, cao đẳng hệ chính quy hiện hành.
4. Sinh viên nhập học phải được trường cung cấp đầy đủ các thông tin về mục
tiêu, nội dung và kế hoạch học tập của các chương trình, quy chế đào tạo, nghĩa vụ và
quyền lợi của sinh viên.

Điều 8: Sắp xếp sinh viên vào học các chương trình hoặc ngành đào tạo
1. Đối với  những  trường  xác  định  điểm  trúng  tuyển  theo  chương  trình  (hoặc
theo ngành đào tạo)  trong kỳ  thi  tuyển sinh,  thì những  thí sinh đạt yêu cầu xét  tuyển
được trường sắp xếp vào học các chương trình (hoặc ngành đào tạo) đã đăng ký.
2. Đối với  những  trường  xác  định  điểm  trúng  tuyển  theo  nhóm  chương  trình
(hoặc theo nhóm ngành đào tạo) trong kỳ thi tuyển sinh, đầu khoá học trường công bố
công khai chỉ  tiêu đào tạo cho từng chương  trình (hoặc từng ngành đào tạo). Căn cứ
vào đăng ký chọn chương trình (hoặc ngành đào tạo), điểm  thi tuyển sinh và kết quả
học tập, trường sắp xếp sinh viên vào các chương trình (hoặc ngành đào tạo). Mỗi sinh
viên được đăng ký một số nguyện vọng chọn chương trình (hoặc ngành đào tạo) theo thứ tự ưu tiên. Hiệu trưởng quy định số lượng và tiêu chí cụ thể đối với từng chương
trình (hoặc ngành đào tạo) để sinh viên đăng ký.

Điều 9: Tổ chức lớp học
Lớp học được tổ chức theo từng học phần dựa vào đăng ký khối lượng học tập
của sinh viên ở từng học kỳ. Hiệu  trưởng quy định số lượng sinh viên tối  thiểu cho
mỗi lớp học tùy theo từng  loại học phần được giảng dạy trong trường. Nếu số lượng
sinh viên đăng ký thấp hơn số lượng tối thiểu quy định thì lớp học sẽ không được tổ
chức  và  sinh  viên phải đăng ký  chuyển  sang học  những học phần khác  có lớp, nếu
chưa đảm bảo đủ quy định về khối lượng học tập tối thiểu cho mỗi học kỳ.

Điều 10: Đăng ký khối lượng học tập
1. Đầu mỗi năm học,  trường  phải  thông  báo lịch  trình học dự  kiến  cho từng
chương trình trong từng học kỳ, danh sách các học phần bắt buộc và tự chọn dự kiến
sẽ dạy, đề cương chi tiết, điều kiện tiên quyết để được đăng ký học cho từng học phần,
lịch kiểm tra và thi, hình thức kiểm tra và thi đối với các học phần.
2. Trước khi bắt đầu mỗi học kỳ,  tùy  theo khả năng và điều kiện học tập của
bản  thân, từng sinh viên phải đăng ký học các học phần dự định sẽ học trong học kỳ
đó với phòng đào tạo của trường. Có 3 hình thức đăng ký các học phần sẽ học trong
mỗi học kỳ: đăng ký sớm, đăng ký bình thường và đăng ký muộn.
a) Đăng ký sớm  là hình  thức đăng ký được  thực hiện  trước  thời điểm bắt đầu
học kỳ 2 tháng;
b) Đăng ký bình  thường  là hình  thức đăng ký được  thực hiện  trước  thời điểm
bắt đầu học kỳ 2 tuần;
c) Đăng ký muộn là hình thức đăng ký được thực hiện trong 2 tuần  đầu của học
kỳ chính hoặc trong tuần đầu của học kỳ phụ cho những sinh viên muốn đăng ký học
thêm hoặc đăng ký học đổi sang học phần khác khi không có lớp.
Tuỳ điều kiện đào tạo của từng  trường, Hiệu  trưởng  xem  xét, quyết định  các
hình thức đăng ký thích hợp.
3. Khối lượng học tập tối thiểu mà mỗi sinh viên phải đăng ký trong mỗi học kỳ
được quy định như sau:
a) 14 tín chỉ cho mỗi học kỳ, trừ học kỳ cuối khóa học, đối với những sinh viên
được xếp hạng học lực bình thường;
b) 10 tín chỉ cho mỗi học kỳ, trừ học kỳ cuối khóa học, đối với những sinh viên
đang trong thời gian bị xếp hạng học lực yếu.
c) Không quy định khối lượng học tập tối thiểu đối với sinh viên ở học kỳ phụ.

4. Sinh  viên  đang  trong  thời  gian bị xếp hạng học lực yếu  chỉ  được  đăng  ký
khối lượng học tập không quá 14 tín chỉ cho mỗi học kỳ. Không hạn chế khối lượng
đăng ký học tập của những sinh viên xếp hạng học lực bình thường.
5. Việc đăng ký các học phần sẽ học cho từng học kỳ phải bảo đảm điều kiện
tiên quyết của từng học phần và trình tự học tập của mỗi chương trình cụ thể.
6. Phòng đào tạo của trường chỉ nhận đăng ký khối lượng học tập của sinh viên
ở mỗi học kỳ khi đã có chữ ký chấp thuận của cố vấn học tập trong sổ đăng ký học tập
hoặc  theo quy định của Hiệu  trưởng. Khối lượng đăng ký học tập của sinh viên  theo
từng học kỳ phải được ghi vào phiếu đăng ký học do phòng đào tạo của  trường lưu
giữ.

Điều 11: Rút bớt học phần đăng ký
1. Việc  rút bớt học phần  trong khối lượng học tập đã đăng ký  chỉ được  chấp
nhận sau 6 tuần kể từ đầu học kỳ chính, nhưng không muộn quá 8 tuần; sau 2 tuần kể
từ đầu học kỳ phụ, nhưng không muộn quá 4 tuần. Ngoài thời hạn trên học phần vẫn
được giữ nguyên trong phiếu đăng ký học và nếu sinh viên không đi học sẽ được xem
như tự ý bỏ học và phải nhận điểm F.
2. Điều kiện rút bớt các học phần đã đăng ký:
a) Sinh viên phải tự viết đơn gửi phòng đào tạo của trường;
b) Được cố vấn học tập chấp thuận hoặc theo quy định của Hiệu trưởng;
c) Không vi phạm khoản 2 Điều 10 của Quy chế này.
Sinh viên chỉ được phép bỏ lớp đối với học phần xin rút bớt, sau khi giảng viên
phụ trách nhận giấy báo của phòng đào tạo.

Điều 12: Đăng ký học lại
1. Sinh viên có học phần bắt buộc bị điểm F phải đăng ký học lại học phần đó ở
một trong các học kỳ tiếp theo cho đến khi đạt điểm A, B, C hoặc D.
2. Sinh viên có học phần tự chọn bị điểm F phải đăng ký học lại học phần đó
hoặc học đổi sang học phần tự chọn tương đương khác.
3. Ngoài các  trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 của Điều này, sinh
viên được quyền đăng ký học lại hoặc học đổi sang học phần khác đối với các học
phần bị điểm D để cải thiện điểm trung bình chung tích lũy.

Điều 13: Nghỉ ốm
Sinh viên xin nghỉ ốm trong quá trình học hoặc trong đợt thi, phải viết đơn xin
phép gửi trưởng khoa trong vòng một tuần kể từ ngày ốm, kèm theo giấy chứng nhận
của cơ quan y tế trường, hoặc y tế địa phương hoặc của bệnh viện.

Điều 14: Xếp hạng năm đào tạo và học lực
1. Sau mỗi học kỳ, căn cứ vào khối lượng kiến thức tích lũy, sinh viên được xếp
hạng năm đào tạo như sau:

a) Sinh viên năm thứ nhất:  Nếu khối lượng kiến thức tích lũy dưới 30 tín chỉ;
b) Sinh viên năm thứ hai:  Nếu  khối lượng  kiến  thức  tích lũy từ  30  tín  chỉ
đến dưới 60 tín chỉ;
c) Sinh viên năm thứ ba:  Nếu  khối lượng  kiến  thức  tích lũy từ  60  tín  chỉ
đến dưới 90 tín chỉ;
d) Sinh viên năm thứ tư:  Nếu  khối lượng  kiến  thức  tích lũy từ  90  tín  chỉ
đến dưới 120 tín chỉ;
đ) Sinh viên năm thứ năm:  Nếu khối lượng kiến  thức  tích lũy từ 120  tín chỉ
đến dưới 150 tín chỉ;
e) Sinh viên năm thứ sáu:  Nếu khối lượng kiến  thức  tích lũy từ 150  tín chỉ
trở lên.
2. Sau mỗi học kỳ, căn cứ vào điểm trung bình chung  tích  luỹ, sinh viên được
xếp hạng về học lực như sau:
a) Hạng bình thường: Nếu điểm trung bình chung tích lũy đạt từ 2,00 trở lên.
b) Hạng yếu: Nếu điểm trung bình chung tích lũy đạt dưới 2,00, nhưng chưa rơi
vào trường hợp bị buộc thôi học.
3. Kết quả học tập trong học kỳ phụ được gộp vào kết quả học tập trong học kỳ
chính ngay trước học kỳ phụ để xếp hạng sinh viên về học lực.

Điều 15: Nghỉ học tạm thời
1. Sinh viên được quyền viết đơn gửi Hiệu trưởng xin nghỉ học tạm thời và  bảo
lưu kết quả đã học trong các trường hợp sau:
a) Được điều động vào các lực lượng vũ trang;
b) Bị ốm hoặc  tai nạn phải điều  trị  thời gian dài, nhưng phải có giấy xác nhận
của cơ quan y tế;
c) Vì nhu cầu cá nhân. Trường hợp này, sinh viên phải học ít nhất một học kỳ ở
trường, không rơi vào các trường hợp bị buộc thôi học quy định tại Điều 16 của Quy
chế này và phải đạt điểm  trung bình chung  tích lũy không dưới 2,00. Thời gian nghỉ
học tạm thời vì nhu cầu cá nhân phải được tính vào thời gian học chính thức quy định
tại khoản 3 Điều 6 của Quy chế này.

2. Sinh viên nghỉ học tạm  thời, khi muốn  trở lại học  tiếp tại  trường, phải viết
đơn gửi Hiệu trưởng ít nhất một tuần trước khi bắt đầu học kỳ mới .

Điều 16: Bị buộc thôi học
1. Sau mỗi học kỳ, sinh viên bị buộc thôi học nếu rơi vào một trong các trường
hợp sau:
a) Có điểm trung bình chung học kỳ đạt dưới 0,80 đối với học kỳ đầu của khóa
học; đạt dưới 1,00 đối với các học kỳ  tiếp  theo hoặc đạt dưới 1,10 đối với 2 học kỳ
liên tiếp;
b) Có điểm  trung bình chung  tích lũy đạt dưới 1,20 đối với sinh viên năm  thứ
nhất; dưới 1,40 đối với sinh viên năm thứ hai; dưới 1,60 đối với sinh viên năm thứ ba
hoặc dưới 1,80 đối với sinh viên các năm tiếp theo và cuối khoá;
c) Vượt  quá  thời  gian tối  đa  được  phép học tại  trường  quy  định tại  khoản  3
Điều 6 của Quy chế này;
d) Bị kỷ luật lần thứ hai vì lý do đi thi hộ hoặc nhờ người thi hộ theo quy định
tại khoản 2 Điều 29 của Quy chế này hoặc bị kỷ  luật ở mức xoá  tên khỏi danh sách
sinh viên của trường.
2.  Chậm  nhất  là một  tháng  sau  khi  sinh  viên  có  quyết  định  buộc  thôi học,
trường phải thông báo trả về địa phương nơi sinh viên có hộ khẩu thường trú. Trường
hợp tại trường sinh viên đã học hoặc tại những trường khác có các chương  trình đào
tạo  ở  trình  độ  thấp hơn  hoặc  chương  trình  giáo dục  thường  xuyên tương  ứng,  thì
những sinh viên thuộc diện bị buộc thôi học quy định tại các điểm a, b và c khoản 1
của Điều này, được quyền xin xét chuyển qua các chương  trình đó và được bảo lưu
một phần kết quả học tập ở chương trình cũ khi học ở các chương trình mới này. Hiệu
trưởng xem xét quyết định cho bảo lưu kết quả học tập đối với từng  trường hợp cụ
thể.

Điều 17: Học cùng lúc hai chương trình
1. Sinh viên học cùng lúc hai chương trình là sinh viên có nhu cầu đăng ký học
thêm một chương trình thứ hai để khi tốt nghiệp được cấp hai văn bằng.
2. Điều kiện để học cùng lúc hai chương trình:
a) Ngành đào tạo chính ở chương trình thứ hai phải khác ngành đào tạo chính ở
chương trình thứ nhất;

b) Sau khi đã kết  thúc học kỳ  thứ nhất năm học đầu  tiên của chương  trình  thứ
nhất;
c) Sinh viên không thuộc diện xếp hạng học lực yếu ở chương trình thứ nhất;
3. Sinh viên đang học thêm chương trình thứ hai, nếu rơi vào diện bị xếp hạng
học lực yếu của chương trình thứ hai, phải dừng học thêm chương trình thứ hai ở học
kỳ tiếp theo.
4. Thời gian tối đa được phép học đối với sinh viên học cùng  lúc hai chương
trình là thời gian tối đa quy định cho chương trình thứ nhất, quy định tại khoản 3 Điều
6 của Quy chế này. Khi học chương  trình  thứ hai, sinh viên được bảo lưu điểm của
những học phần có nội dung và khối lượng kiến  thức tương đương có  trong chương
trình thứ nhất.
5. Sinh viên chỉ được xét tốt nghiệp chương trình  thứ hai, nếu có đủ điều kiện
tốt nghiệp ở chương trình thứ nhất.

Điều 18: Chuyển trường
1. Sinh viên được xét chuyển trường nếu có các điều kiện sau đây:
a) Trong  thời  gian học tập, nếu  gia đình  chuyển nơi cư  trú  hoặc  sinh  viên  có
hoàn cảnh khó khăn, cần thiết phải chuyển đến trường gần nơi cư trú của gia đình để
thuận lợi trong học tập;
b) Xin  chuyển  đến  trường  có  cùng  ngành  hoặc  thuộc  cùng  nhóm  ngành với
ngành đào tạo mà sinh viên đang học;
c) Được sự đồng ý của Hiệu trưởng trường xin chuyển đi và trường xin chuyển
đến;
d) Không thuộc một trong các trường hợp không được phép chuyển trường quy
định tại khoản 2 Điều này.
2. Sinh viên không được phép chuyển trường trong các trường hợp sau:
a) Sinh viên đã tham dự kỳ thi tuyển sinh theo đề thi chung, nhưng không trúng
tuyển  vào  trường  hoặc  có kết  quả  thi  thấp hơn  điểm  trúng  tuyển của  trường  xin
chuyển đến;
b) Sinh viên thuộc diện nằm ngoài vùng tuyển quy định của trường xin chuyển
đến;
c) Sinh viên năm thứ nhất và năm cuối khóa;
d) Sinh viên đang trong thời gian bị kỷ luật từ cảnh cáo trở lên.
3. Thủ tục chuyển trường:
a) Sinh viên xin chuyển trường phải làm hồ sơ xin chuyển trường theo quy định
của nhà trường;

b) Hiệu  trưởng  trường có sinh viên xin chuyển đến quyết định  tiếp nhận hoặc
không  tiếp  nhận; quyết định  việc học tập  tiếp tục của  sinh  viên,  công  nhận  các học
phần mà sinh viên chuyển đến được chuyển đổi kết quả và số học phần phải học bổ
sung, trên cơ sở so sánh chương trình ở trường sinh viên xin chuyển đi và trường xin
chuyển đến.

CHƯƠNG 3: KIỂM TRA VÀ THI HỌC PHẦN
Điều 19: Đánh giá học phần
1. Đối với các học phần chỉ có lý thuyết hoặc có cả lý thuyết và thực hành: Tùy
theo tính chất của học phần, điểm tổng hợp đánh giá học phần (sau đây gọi tắt là điểm
học phần) được tính căn cứ vào một phần hoặc tất cả các điểm đánh giá bộ phận, bao
gồm: điểm kiểm tra thường xuyên trong qúa trình học tập; điểm đánh giá nhận thức và
thái độ tham gia thảo luận; điểm đánh giá phần thực hành; điểm chuyên cần; điểm thi
giữa học phần; điểm  tiểu  luận  và  điểm  thi kết  thúc học phần,  trong đó điểm  thi kết
thúc học phần là bắt buộc cho mọi trường hợp và có trọng số không dưới 50%.
Việc lựa chọn các hình thức đánh giá bộ phận và trọng số của các điểm đánh giá
bộ phận, cũng như cách tính điểm tổng hợp đánh giá học phần do giảng viên đề xuất,
được Hiệu  trưởng phê duyệt và phải được quy định  trong đề cương chi  tiết của học
phần.
2. Đối với các học phần thực hành: Sinh viên phải tham dự đầy đủ các bài thực
hành. Điểm  trung bình cộng của điểm các bài  thực hành  trong học kỳ được  làm  tròn
đến một chữ số thập phân là điểm của học phần thực hành.
3. Giảng viên phụ  trách học phần  trực  tiếp  ra đề  thi, đề kiểm  tra và cho điểm
đánh giá bộ phận, trừ bài thi kết thúc học phần.

Điều 20: Tổ chức kỳ thi kết thúc học phần
1. Cuối mỗi học kỳ,  trường tổ  chức một kỳ  thi  chính  và nếu  có điều kiện, tổ
chức thêm một kỳ thi phụ để thi kết thúc học phần. Kỳ thi phụ dành cho những sinh
viên không tham dự kỳ thi chính hoặc có học phần bị điểm F ở kỳ thi chính và được tổ
chức sớm nhất là hai tuần sau kỳ thi chính.
2. Thời  gian dành  cho ôn  thi mỗi học phần tỷ lệ  thuận với số  tín  chỉ của học
phần đó,  ít  nhất  là 2/3  ngày  cho một  tín  chỉ. Hiệu  trưởng quy định cụ  thể  thời  gian
dành cho ôn thi và thời gian thi cho các kỳ thi.

Điều 21: Ra đề thi, hình thức thi, chấm thi và số lần được dự thi kết thúc học phần
1. Đề  thi kết  thúc học phần phải phù hợp với nội dung học phần đã quy định
trong chương  trình. Việc  ra đề  thi hoặc lấy từ ngân hàng đề  thi được  thực hiện  theo
quy định của Hiệu trưởng.
2. Hình thức thi kết thúc học phần có thể là thi viết (trắc nghiệm hoặc tự luận),
vấn đáp,  viết  tiểu  luận,  làm  bài tập lớn, hoặc kết hợp  giữa  các hình  thức  trên. Hiệu
trưởng duyệt các hình thức thi thích hợp cho từng học phần.
3. Việc chấm thi kết thúc các học phần chỉ có lý thuyết và việc chấm tiểu luận,
bài tập lớn phải do hai giảng viên đảm nhiệm.
Hiệu  trưởng quy định việc bảo quản các bài  thi, quy  trình chấm  thi và lưu giữ
các bài  thi sau khi chấm. Thời gian lưu giữ các bài  thi viết,  tiểu  luận, bài tập lớn  ít
nhất là hai năm, kể từ ngày thi hoặc ngày nộp tiểu luận, bài tập lớn.
4. Thi vấn đáp kết thúc học phần phải do hai giảng viên thực hiện. Điểm thi vấn
đáp được công bố công khai sau mỗi buổi thi. Trong trường hợp hai giảng viên chấm
thi không thống nhất được điểm chấm thì các giảng viên chấm thi trình trưởng bộ môn
hoặc trưởng khoa quyết định.
Các điểm thi kết thúc học phần và điểm học phần phải ghi vào bảng điểm theo
mẫu thống nhất của trường, có chữ ký của cả hai giảng viên chấm thi và làm thành ba
bản. Một bản lưu tại bộ môn, một bản gửi về văn  phòng  khoa  và một bản gửi về
phòng đào tạo của trường, chậm nhất một tuần sau khi kết thúc chấm thi học phần.
5. Sinh viên vắng mặt trong kỳ thi kết thúc học phần, nếu không có lý do chính
đáng coi như đã dự  thi một lần và phải nhận điểm 0 ở kỳ thi chính. Những sinh viên
này khi được trưởng khoa cho phép được dự thi một lần ở kỳ thi phụ ngay sau đó (nếu
có).
6. Sinh viên vắng mặt có lý do chính đáng ở kỳ thi chính, nếu được trưởng khoa
cho phép, được dự thi ở kỳ thi phụ ngay sau đó (nếu có), điểm thi kết  thúc học phần
được  coi  là  điểm  thi lần  đầu. Trường hợp  không  có kỳ  thi  phụ  hoặc  thi  không  đạt
trong kỳ thi phụ những sinh viên này sẽ phải dự thi tại các kỳ thi kết thúc học phần ở
các học kỳ sau hoặc học kỳ phụ.

Điều 22: Cách tính điểm đánh giá bộ phận, điểm học phần
1. Điểm đánh giá bộ phận và điểm thi kết thúc học phần được chấm theo thang
điểm 10 (từ 0 đến 10), làm tròn đến một chữ số thập phân.

2. Điểm học phần  là tổng điểm của tất cả các điểm đánh giá bộ phận của học
phần nhân với trọng số tương ứng. Điểm học phần làm tròn đến một chữ số thập phân,
sau đó được chuyển thành điểm chữ như sau:
a) Loại đạt:   A (8,5 – 10)        Giỏi
B (7,0 – 8,4)     Khá
C (5,5 – 6,9)     Trung bình
D (4,0 – 5,4)     Trung bình yếu
b) Loại không đạt: F (dưới 4,0)         Kém
c) Đối với  những học  phần  chưa  đủ cơ sở  để  đưa  vào  tính  điểm  trung  bình
chung học kỳ, khi xếp mức đánh giá được sử dụng các kí hiệu sau:
I   Chưa đủ dữ liệu đánh giá.
X   Chưa nhận được kết quả thi.
d) Đối với  những học  phần  được  nhà  trường  cho  phép  chuyển  điểm,  khi xếp
mức đánh giá được sử dụng kí hiệu R viết kèm với kết quả.
3. Việc xếp loại các mức điểm A, B, C, D, F được áp dụng cho các trường hợp
sau đây:
a) Đối với những học phần mà sinh viên đã có đủ điểm đánh giá bộ phận, kể cả
trường hợp bỏ học, bỏ kiểm tra hoặc bỏ thi không có lý do phải nhận điểm 0;
b) Chuyển đổi từ mức điểm I qua, sau khi đã có các kết quả đánh giá bộ phận
mà trước đó sinh viên được giảng viên cho phép nợ;
c) Chuyển đổi từ các trường hợp X qua.
4. Việc xếp  loại ở mức điểm F ngoài những  trường hợp như đã nêu ở khoản 3
Điều này, còn áp dụng cho  trường hợp sinh viên vi phạm nội quy  thi, có quyết định
phải nhận mức điểm F.
5. Việc xếp loại theo mức điểm I được áp dụng cho các trường hợp sau đây:
a) Trong thời gian học hoặc trong thời gian thi kết thúc học kỳ, sinh viên bị ốm
hoặc tai nạn không thể dự kiểm tra hoặc thi, nhưng phải được trưởng khoa cho phép;
b) Sinh viên không thể dự kiểm tra bộ phận hoặc thi vì những lý do khách quan,
được trưởng khoa chấp thuận.
Trừ các trường hợp đặc biệt do Hiệu trưởng quy định, trước khi bắt đầu học kỳ
mới kế tiếp, sinh viên nhận mức điểm I phải trả xong các nội dung kiểm tra bộ phận
còn nợ để được chuyển điểm. Trường hợp sinh viên chưa trả nợ và chưa chuyển điểm
nhưng không rơi vào trường hợp bị buộc thôi học thì vẫn được học tiếp ở các học kỳ
kế tiếp.

6. Việc xếp  loại  theo mức điểm X được  áp dụng đối với  những học phần mà
phòng đào tạo của  trường chưa nhận được báo cáo kết quả học tập của sinh viên từ
khoa chuyển lên.
7. Ký hiệu R được áp dụng cho các trường hợp sau:
a) Điểm học phần được đánh giá ở các mức điểm A, B, C, D trong đợt đánh giá
đầu học kỳ (nếu có) đối với một số học phần được phép thi sớm để giúp sinh viên học
vượt.
b) Những học  phần  được  công  nhận kết  quả,  khi  sinh  viên  chuyển từ  trường
khác đến hoặc chuyển đổi giữa các chương trình.

Điều 23: Cách tính điểm trung bình chung
1. Để  tính  điểm  trung  bình  chung học kỳ  và  điểm  trung  bình  chung  tích lũy,
mức điểm chữ của mỗi học phần phải được quy đổi qua điểm số như sau:
A   tương ứng với   4
B   tương ứng với   3
C   tương ứng với   2
D   tương ứng với   1
F   tương ứng với   0
Trường hợp sử dụng  thang điểm chữ có nhiều mức, Hiệu  trưởng quy định quy
đổi các mức điểm chữ đó qua các điểm số thích hợp, với một chữ số thập phân.
2. Điểm  trung bình chung học kỳ và điểm  trung bình chung  tích lũy được  tính
theo công thức sau và được làm tròn đến 2 chữ số thập phân:

A=\dfrac{\sum_{i=1}^{n}a_{i}\times n_{i}}{\sum_{i=1}^{n}n_{i}}

Trong đó:
A là điểm trung bình chung học kỳ hoặc điểm trung bình chung tích lũy
ai  là điểm của học phần thứ i
ni  là số tín chỉ của học phần thứ i
n  là tổng số học phần.
Điểm  trung bình chung học kỳ để xét học bổng, khen  thưởng sau mỗi học kỳ
chỉ tính theo kết quả thi kết thúc học phần ở lần thi thứ nhất. Điểm trung bình chung học kỳ và điểm trung bình chung tích lũy để xét thôi học, xếp hạng học lực sinh viên
và xếp hạng tốt nghiệp được tính theo điểm  thi kết  thúc học phần cao nhất trong các
lần thi.

CHƯƠNG 4: XÉT VÀ CÔNG NHẬN TỐT NGHIỆP
Điều 24: Thực tập cuối khóa, làm đồ án hoặc khóa luận tốt nghiệp
1. Đầu học kỳ cuối khoá, các sinh viên được đăng ký  làm đồ án, khoá  luận tốt
nghiệp hoặc học thêm một số học phần chuyên môn được quy định như sau:
a) Làm đồ án, khoá  luận tốt nghiệp: áp dụng cho sinh viên đạt mức quy định
của trường. Đồ án, khoá  luận tốt nghiệp  là học phần có khối lượng không quá 14 tín
chỉ cho trình độ đại học và 5 tín chỉ cho trình độ cao đẳng. Hiệu trưởng quy định khối
lượng cụ thể phù hợp với yêu cầu đào tạo của trường.
b) Học và thi một số học phần chuyên môn: sinh viên không được giao làm đồ
án, khoá  luận tốt  nghiệp phải đăng ký học  thêm một số học  phần  chuyên môn, nếu
chưa tích lũy đủ số tín chỉ quy định cho chương trình.
2.  Tùy  theo  điều  kiện của  trường  và  đặc  thù của từng  ngành  đào tạo,  Hiệu
trưởng quy định:
a)  Các  điều  kiện  để  sinh  viên  được  đăng  ký  làm  đồ  án  hoặc  khoá  luận tốt
nghiệp;
b) Hình thức và thời gian làm đồ án, khoá luận tốt nghiệp;
c) Hình thức chấm đồ án, khoá luận tốt nghiệp;
d) Nhiệm vụ của giảng viên hướng dẫn;  trách nhiệm của bộ môn và khoa đối
với sinh viên trong thời gian làm đồ án, khoá luận tốt nghiệp.
3.  Đối với một số  ngành  đào tạo  đòi hỏi  phải  dành  nhiều  thời  gian  cho  thí
nghiệm hoặc khảo sát để sinh viên hoàn thành đồ án, khoá luận tốt nghiệp, trường có
thể bố  trí  thời  gian  làm  đồ  án,  khoá  luận tốt  nghiệp kết hợp với  thời  gian  thực tập
chuyên môn cuối khoá.

Điều 25: Chấm đồ án, khóa luận tốt nghiệp
1.  Hiệu  trưởng  quyết  định  danh  sách  giảng  viên  chấm  đồ  án,  khoá  luận tốt
nghiệp. Việc chấm mỗi đồ án, khóa luận tốt nghiệp phải do 2 giảng viên đảm nhiệm.
2. Điểm của đồ án, khoá  luận tốt nghiệp được chấm  theo  thang điểm chữ  theo
quy định tại các mục a và b, khoản 2, Điều 22 của Quy chế này. Kết quả chấm đồ án, khóa  luận tốt nghiệp được công bố chậm nhất  là 3  tuần, kể từ ngày nộp đồ án, khóa
luận tốt nghiệp.
Điểm đồ án, khoá luận tốt nghiệp được tính vào điểm trung bình chung tích lũy
của toàn khoá học.
3. Sinh viên có đồ án, khoá luận tốt nghiệp bị điểm F, phải đăng ký  làm lại đồ
án, khóa luận tốt nghiệp; hoặc phải đăng ký học thêm một số học phần chuyên môn để
thay thế, sao cho tổng số tín chỉ của các học phần chuyên môn học thêm tương đương
với số tín chỉ của đồ án, khóa luận tốt nghiệp.

Điều 26: Thực tập cuối khóa và điều kiện xét tốt nghiệp của một số ngành đào tạo đặc thù
Đối với một số ngành đào tạo đặc thù thuộc các lĩnh vực Nghệ thuật, Kiến trúc,
Y tế, Thể dục  – Thể  thao, Hiệu  trưởng  quy  định nội  dung,  hình  thức  thực tập  cuối
khoá;  hình  thức  chấm  đồ  án,  khoá  luận tốt  nghiệp;  điều  kiện  xét  và  công  nhận tốt
nghiệp phù hợp với đặc điểm các chương trình của trường.

Điều 27: Điều kiện xét tốt nghiệp và công nhận tốt nghiệp
1. Những sinh viên có đủ các điều kiện sau thì được trường xét và công nhận tốt
nghiệp:
a) Cho đến thời điểm xét tốt nghiệp không bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc
không đang trong thời gian bị kỷ luật ở mức đình chỉ học tập;
b) Tích lũy đủ số học phần quy định cho chương trình đào tạo: với khối lượng
không dưới 180 tín chỉ đối với khoá đại học 6 năm; 150 tín chỉ đối với khoá đại học 5
năm; 120 tín chỉ đối với khoá đại học 4 năm; 90 tín chỉ đối với khoá cao đẳng 3 năm;
60 tín chỉ đối với khoá cao đẳng 2 năm. Hiệu trưởng quy định cụ thể khối lượng kiến
thức tối  thiểu  cho từng  chương  trình  được  triển  khai  đào tạo  trong  phạm  vi  trường
mình;
c) Điểm trung bình chung tích lũy của toàn khóa học đạt từ 2,00 trở lên;
d) Thỏa mãn một số yêu cầu về kết quả học tập đối với nhóm học phần  thuộc
ngành đào tạo chính do Hiệu trưởng quy định;
đ) Có chứng chỉ giáo dục quốc phòng và giáo dục  thể chất đối với các ngành
đào tạo không chuyên về quân sự và thể dục – thể thao.
2. Sau mỗi học kỳ, Hội đồng xét tốt nghiệp căn cứ các điều kiện công nhận tốt
nghiệp quy định tại khoản 1 Điều này để lập danh sách những sinh viên đủ điều kiện
tốt nghiệp.

Hội  đồng  xét tốt  nghiệp  trường  do Hiệu  trưởng  hoặc  Phó  Hiệu  trưởng  được
Hiệu  trưởng uỷ quyền  làm Chủ tịch,  trưởng phòng đào tạo  làm Thư ký và các  thành
viên là các trưởng khoa chuyên môn, trưởng phòng công tác sinh viên.
3. Căn cứ đề nghị của Hội đồng xét tốt nghiệp, Hiệu trưởng ký quyết định công
nhận tốt nghiệp cho những sinh viên đủ điều kiện tốt nghiệp.

Điều 28: Cấp bằng tốt nghiệp, bản lưu kết quả học tập, chuyển chương trình đào tạo và chuyển loại hình đào tạo
1. Bằng tốt nghiệp đại học, cao đẳng được cấp  theo ngành đào tạo chính (đơn
ngành hoặc song ngành). Hạng tốt nghiệp được xác định theo điểm trung bình chung
tích lũy của toàn khoá học, như sau:
a) Loại xuất sắc:    Điểm trung bình chung tích lũy từ 3,60 đến 4,00;
b) Loại giỏi:       Điểm trung bình chung tích lũy từ 3,20 đến 3,59;
c) Loại khá:       Điểm trung bình chung tích lũy từ 2,50 đến 3,19;
d) Loại trung bình:   Điểm trung bình chung tích lũy từ 2,00 đến 2,49.
2. Hạng tốt nghiệp của những sinh viên có kết quả học tập  toàn khoá  loại xuất
sắc và giỏi sẽ bị giảm đi một mức, nếu rơi vào một trong các trường hợp sau:
a) Có khối lượng của các học phần phải thi lại vượt quá 5% so với tổng số tín
chỉ quy định cho toàn chương trình;
b) Đã bị kỷ luật từ mức cảnh cáo trở lên trong thời gian học.
3. Kết quả học tập của  sinh  viên phải được ghi  vào bảng điểm  theo từng học
phần. Trong bảng điểm còn phải ghi chuyên ngành  (hướng chuyên sâu) hoặc ngành
phụ (nếu có).
4. Nếu kết quả học tập của sinh viên thỏa mãn những quy định tại khoản 1 Điều
27 của Quy chế này đối với một số chương trình đào tạo tương ứng với các ngành đào
tạo khác nhau,  thì sinh viên được cấp các bằng tốt nghiệp khác nhau tương ứng với
các ngành đào tạo đó.
5. Sinh viên còn nợ chứng chỉ giáo dục quốc phòng và giáo dục thể chất, nhưng
đã hết thời gian tối đa được phép học, trong thời hạn 5 năm tính từ ngày phải ngừng
học, được trở về trường trả nợ để có đủ điều kiện xét tốt nghiệp.
6. Sinh  viên không tốt  nghiệp được cấp giấy  chứng  nhận về  các học phần đã
học  trong chương  trình của  trường. Những sinh viên này nếu có nguyện vọng, được
quyền làm đơn xin chuyển qua các chương trình khác theo quy định tại khoản 2 Điều
16 của Quy chế này.

CHƯƠNG 5: XỬ LÝ VI PHẠM
Điều 29: Xử lý kỷ luật đối với sinh viên vi phạm các quy định về thi, kiểm tra

1.
Trong khi dự kiểm tra thường xuyên, chuẩn bị tiểu luận, bài tập lớn, thi giữa học phần, thi kết thúc học phần, chuẩn bị đồ án, khóa luận tốt nghiệp, nếu vi phạm quy chế, sinh viên sẽ bị xử lý kỷ luật với từng học phần đã vi phạm.
2.
Sinh viên đi thi hộ hoặc nhờ người khác thi hộ, đều bị kỷ luật ở mức đình chỉ học tập một năm đối với trường hợp vi phạm lần thứ nhất và buộc thôi học đối với trường hợp vi phạm lần thứ hai.
3.
Trừ trường hợp như quy định tại khoản 2 Điều này, mức độ sai phạm và khung xử lý kỷ luật đối với sinh viên vi phạm được thực hiện theo các quy định của Quy chế tuyển sinh đại học, cao đẳng hệ chính quy.

Kế hoạch hội thảo khoa học: ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC – NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN TIỂU HỌC

10/05/2010

KẾ HOẠCH, CHƯƠNG TRÌNH HỘI THẢO KHOA HỌC

KHOA TIỂU HỌC – NĂM HỌC 2009 – 2010

I. Thời gian, địa điểm, thành phần

1. Khai mạc lúc 7 giờ 30 phút ngày 13 tháng 5 năm 2010

2. Địa điểm : Phòng họp B

3. Thành phần : – Toàn thể cán bộ, giảng viên khoa tiểu học

– Khách mời : Đại diện BGH, phòng đào tạo

– Sinh viên khóa 32

– Ban chỉ đạo hội thảo : Trưởng ban : Tạ Đình Thảo (Trưởng khoa), Phó Trưởng ban: Phạm Thị Lan Hương ( Phó Trưởng khoa ),

Thư kí : Nguyễn Thị Bạch Liên (Cán bộ VPK)

– Các ủy viên : Các giảng viên của khoa

II. Nội dung :

  1. Giới thiệu thành phần tham dự hội thảo
  2. Báo cáo đề dẫn ( Tạ Đình Thảo )
  3. Báo cáo chuyên đề : Dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động của người học ( Võ Thị Tuyết Mai )
  4. Sử dụng Adobe Presenter trong dạy học (Nguyễn Minh Trí)
  5. Thảo luận
  6. Phát biểu của đại biểu
  7. Tổng kết, bế mạc

Lịch thi học kì IV-K33

10/05/2010

Lịch thi học kì 4 – khóa 33 – CĐ Tiểu học

Ngày thi Tên học phần
Sáng T3 11/05/2010 Bơi lội và phương pháp (TH)
Sáng T4 12/05/2010 Học hát
Sáng T5 13/05/2010 Đàn phím điện tử
Sáng T6 14/05/2010 PPDH thủ công kĩ thuật
Sáng T2 17/05/2010 Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin
Chiều T3 18/05/2010 Anh văn (3)
Sáng T4 19/05/2010 Lí luận giáo dục tiểu hoc
Sáng T5 20/05/2010 Đạo đức và phương pháp giảng dạy
Sáng T2 24/05/2010 Phương pháp dạy học Tiếng Việt
Chiều T3 25/05/2010 Phương pháp dạy học Toán (2)
Sáng T4 26/05/2010 Vẽ tranh nặn tạo dáng
Sáng T6 28/05/2010 PPDH TN-XH